Vocabulary

Unit 1: Numbers and years

Unit 1: Numbers and years
Bạn đã đọc số và năm đúng chưa? Cùng Ms Hoa Giao tiếp tìm hiểu hơn về cách đọc số và năm trong giao tiếp tiếng Anh nhé

Trong ngữ cảnh tiếng Anh doanh nghiệp, những con số là những thứ chúng ta phải động đến khá nhiều, thậm chí là hằng ngày đối với các bạn làm tài chính ngân hàng hay kế toán, hôm nay tôi sẽ giới thiệu với các bạn các quy luật đọc số trong tiếng Anh nhé.

1. Trước tiên các bạn hãy tìm cách đọc cho tôi số này: 0.

Có bạn sẽ đọc là zero (chữ này phiên âm là /ziːroʊ/ nhé, không phải zê rô), có bạn lại đọc oh. Ở đây không có cách nào đúng hay cách nào sai, không có cách đọc nào ‘cool’ hơn cách nào, chỉ là ở Mỹ thì người ta hay dùng zero; còn ở Anh người ta hay dùng “nought”, phiên âm giống chữ “not”. Hồi xưa khi tôi còn ở Anh, giả sử khi muốn nói “0,5 bảng” người ta không nói “oh point five”, mà nói “nought point five”. Tôi nghe bọn nó nói “nought point five” mà đơ người ra một lúc. Me like “What do you mean, not point five?” Sau rồi ở lâu mới quen với việc là người Anh hay dùng chữ “nought” để nói về số má hay tiền bạc “Oh”, mặt khác, nên dùng khi nói số điện thoại (như 007 – double oh seven). Ngoài ra, còn một từ nữa mà người Anh hay dùng để nói kết quả - từ ‘nil’. Giả sử đội bạn thích thắng với tỷ số 5-0, bạn có thể nói, “The score last night is five-nil in favor of my team.”

2. Bây giờ hãy nói đến những số to hơn.

Say, 100. Sẽ có người nói là a hundred, có người là one hundred. Again, người Anh hay nói a hundred; còn người Mỹ hay nói one hundred. Thế còn 120? One hundred and twenty. Bây giờ tăng lên 200 thì sao? Two hundred (nên nhớ chữ hundred không có –s). Sau đây là những số to hơn (các bạn chú ý, tiếng Anh ngược so với tiếng Việt, nó dùng dấu phẩy để ngăn cách phần trăm; và dùng giống chấm để ngăn cách phần thập phân):

1,000 – a thousand | one thousand

1,250 – one thousand two hundred fifty

12,000 – twelve thousand

55,000 – fifty-five thousand

1,000,000 – a million | one million

1,000,000,000 – a billion | one billion

3. Tiếp theo hãy nói đến năm.

Let’s say, 1789? 1805? 2001?. Chúng ta không nói 1789 theo kiểu “one thousand seven hundred” mà chúng ta nói hai số đầu, rồi hai số cuối: seventeen eighty-nine; eighteen oh five. Đối với những năm đầu một thế kỷ như 2000, hay 2001, chúng ta nói bình thường: two thousand, two thousand one. Còn năm nay là 2016, hãy nói twenty sixteen.

Khi chúng ta nói đến số 1, ngoài ‘one’ ra, còn có ‘first’. Vậy “first”, “second”, hay “third” mang tính chất gì? Khi nói đến những từ này, thì nó có bản chất “đứng ở thứ bao nhiêu” (số thứ tự). This is my first job. – Công việc đầu tiên của tôi. I work in an office on the thirtieth floor. – Tôi làm ở tầng 30. Nhân chuyện nói đến tầng, lại nhắc lại một vấn đề khác nhau nho nhỏ giữa Anh-Anh và Anh-Mỹ. Hãy xét 3 từ sau: ground floor – first floor – second floor. Nếu bạn học tiếng Anh – Anh, bạn sẽ dùng “ground”, từ này người miền Nam gọi là “Tầng trệt”, còn người miền Bắc lại gọi “tầng một”. Người Mỹ sẽ dùng là first floor. Thế còn tầng 2 thì sao? Người Anh dùng là first floor, còn người Mỹ lại dùng second floor. Hoá ra người Nam dùng cách chỉ tầng giống người Anh, còn người Bắc thì lại giống người Mỹ.

Cách đọc số chuẩn trong tiếng Anh giao tiếp không khó như bạn nghĩ

4. Cuối cùng tôi sẽ nói đến phần khó nhất.

Hãy thử đọc các số sau: 0.5; 1.5; 12.93; 59.367; 1/3; 3/5; ½; ¼; 8¾; 10%; 17.5%

0.5, như tôi đã nói với các bạn, có thể nói là “zero point five” hoặc “nought point five” hoặc ngắn gọn hơn nữa, “point five”. Tương tự 1.5 – one point five. Thế còn 12.93 thì sao? Có nhiều bạn đọc là “twelve point ninety-three”, đây là sai lầm cơ bản vì khi đọc số sau phần thập phân, chúng ta chỉ đọc số liên tiếp: “twelve point nine three”. Tương tự, 59.367 – fifty-nine point three six seven.

Lại nói đến phân số, các bạn cứ nhớ công thức sau là không bao giờ bị nhầm: Muốn đọc a/b, ta đọc số a là số đếm, còn b là số thứ tự. Giả sử 1/3 là “one third”, 3/5 là “three-fifths”. Ngoài ra còn có các số đặc biệt như ½ - a half; hay ¼ - a quarter. Khi muốn nói hỗn số, các bạn thêm ‘and’ ở giữa: 8¾ - eight and three quarters.

Cuối cùng là phần trăm: các bạn cứ đọc như số bình thường, thêm từ “per cent” đằng sau: ten per cent; seventeen point five per cent.
 

Hỗ trợ trực tuyến